Sự phát triển của nhiều blockchain độc lập đã tạo ra một hệ sinh thái phong phú, nhưng đồng thời cũng khiến tài sản số bị phân tán giữa các mạng lưới. Một token tồn tại trên blockchain này không mặc nhiên có thể được sử dụng trên blockchain khác. Người dùng muốn chuyển tài sản sang một mạng có phí thấp hơn, tốc độ phù hợp hơn hoặc có ứng dụng riêng thường phải tìm đến một loại hạ tầng gọi là cầu nối blockchain, hay còn gọi là blockchain bridge.
Cầu nối không đơn giản là một nút bấm chuyển tiền giữa hai tài khoản. Đằng sau thao tác đó là quá trình xác nhận giao dịch, khóa hoặc lưu ký tài sản ở mạng nguồn, sau đó phát hành một dạng tài sản đại diện ở mạng đích. Khi người dùng muốn quay về mạng ban đầu, quy trình thường được thực hiện theo chiều ngược lại. Vì liên quan đến nhiều hợp đồng thông minh, cơ chế xác thực và đôi khi là bên trung gian, cầu nối có một bề mặt rủi ro lớn hơn so với giao dịch thông thường trên cùng một blockchain.
Cầu nối blockchain giải quyết vấn đề gì?
Mỗi blockchain có bộ quy tắc riêng. Mạng lưới có thể sử dụng cơ chế đồng thuận khác nhau, hỗ trợ các loại tài sản khác nhau và vận hành những ứng dụng phi tập trung không hoàn toàn tương thích với nhau. Một ví có thể hiển thị cùng tên tài sản trên hai mạng, nhưng về mặt kỹ thuật đó có thể là hai token khác nhau, được phát hành theo các tiêu chuẩn và hợp đồng riêng biệt.
Cầu nối được thiết kế để tạo ra khả năng tương tác giữa các hệ sinh thái này. Chẳng hạn, người dùng đang nắm giữ một tài sản trên mạng nguồn có thể gửi tài sản vào hợp đồng của cầu nối. Sau khi giao dịch được xác nhận, cầu nối phát hành một token đại diện trên mạng đích. Token đại diện này thường được dùng trong các sàn giao dịch phi tập trung, nền tảng cho vay hoặc ứng dụng khác trên mạng đích.
Ở chiều ngược lại, người dùng gửi token đại diện trở lại cầu nối. Tài sản đại diện có thể bị đốt hoặc khóa, còn tài sản gốc được giải phóng ở mạng nguồn. Mục tiêu của quy trình là duy trì mối liên hệ giữa lượng tài sản gốc đang bị khóa và lượng tài sản đại diện đang lưu hành. Tuy nhiên, cách một cầu nối duy trì mối liên hệ đó và cách nó xác nhận giao dịch mới là yếu tố quyết định mức độ an toàn.
Ba mô hình vận hành phổ biến
Không có một mô hình cầu nối duy nhất. Một số cầu nối dựa vào cơ chế khóa và phát hành. Tài sản gốc được khóa trong một hợp đồng hoặc ví lưu ký, sau đó token đại diện được tạo trên mạng đích. Đây là mô hình tương đối dễ hình dung, nhưng người dùng phải quan tâm đến nơi tài sản gốc được giữ, ai có quyền tương tác với hợp đồng và liệu lượng tài sản đại diện có được bảo chứng đầy đủ hay không.
Mô hình thứ hai sử dụng cơ chế đốt và phát hành. Token ở mạng nguồn bị hủy khi người dùng chuyển sang mạng đích, rồi một lượng token tương ứng được tạo ra trên mạng mới. Cách này có thể hạn chế việc cùng một tài sản bị lưu hành đồng thời ở nhiều nơi, nhưng vẫn phụ thuộc vào hợp đồng thông minh và hệ thống xác thực của cầu nối.
Một số thiết kế khác tận dụng thanh khoản có sẵn ở hai phía. Thay vì khóa tài sản rồi tạo token đại diện, hệ thống có thể nhận tài sản của người dùng ở mạng nguồn và trả ra một tài sản tương ứng từ bể thanh khoản ở mạng đích. Mô hình này có thể giúp giao dịch nhanh hơn trong điều kiện thanh khoản đầy đủ, nhưng người dùng có thể chịu phí, trượt giá hoặc không thể hoàn tất giao dịch nếu bể thanh khoản không đủ.
Về cách xác nhận, cầu nối có thể dùng một nhóm người vận hành, mạng lưới người xác thực, cơ chế chữ ký nhiều bên hoặc hệ thống phần mềm theo dõi dữ liệu từ blockchain. Mỗi phương án đều có sự đánh đổi giữa tốc độ, chi phí, khả năng mở rộng và mức độ phân quyền. Một hệ thống ít bên xác thực có thể xử lý gọn hơn nhưng khi khóa quản trị bị lộ hoặc bên vận hành bị xâm nhập, thiệt hại có thể lan rộng.
Vì sao cầu nối thường được xem là điểm rủi ro cao?
Rủi ro đầu tiên nằm ở hợp đồng thông minh. Cầu nối thường phải quản lý tài sản có giá trị lớn và thực hiện nhiều thao tác tự động. Một lỗi trong logic kiểm tra chữ ký, xác minh giao dịch hoặc cập nhật số dư có thể khiến hợp đồng chấp nhận một yêu cầu không hợp lệ. Lỗ hổng cũng có thể xuất hiện trong các thành phần liên quan như hệ thống chuyển tiếp thông điệp, mô-đun quản trị hoặc phần mềm theo dõi trạng thái blockchain.
Rủi ro thứ hai là khóa quản trị và quyền nâng cấp. Một giao thức có thể cho phép một nhóm nhỏ thay đổi hợp đồng, thêm người xác thực hoặc tạm dừng hoạt động. Quyền này có thể cần thiết để xử lý sự cố, nhưng cũng tạo ra rủi ro tập trung. Nếu khóa quản trị bị đánh cắp, bị sử dụng sai hoặc cơ chế phê duyệt quá dễ dãi, kẻ tấn công có thể can thiệp vào dòng tài sản mà không cần phá vỡ toàn bộ blockchain nền tảng.
Rủi ro thứ ba liên quan đến việc xác minh thông điệp giữa các mạng. Blockchain nguồn chỉ ghi nhận rằng một giao dịch đã xảy ra trên chính mạng đó; nó không tự động bảo đảm rằng một blockchain khác đã hiểu đúng giao dịch này. Cầu nối phải có cách truyền và kiểm tra thông tin. Nếu cơ chế kiểm tra bị đánh lừa, hệ thống có thể phát hành tài sản đại diện mà không có đủ tài sản gốc làm bảo chứng.
Thanh khoản cũng là một vấn đề thực tế. Một giao dịch có thể được xác nhận về mặt kỹ thuật nhưng vẫn không thể hoàn tất theo mức giá người dùng mong muốn. Khi lượng tài sản ở mạng đích hạn chế, người dùng có thể gặp trượt giá lớn, phải chờ lâu hoặc nhận một tài sản khác với kỳ vọng ban đầu. Vì vậy, trạng thái “giao dịch thành công” trên một blockchain chưa chắc đồng nghĩa với việc tài sản đã đến đúng ví và có thể sử dụng ngay trên mạng còn lại.
Tài sản đại diện không phải lúc nào cũng giống tài sản gốc
Một nhầm lẫn phổ biến là xem token đại diện trên mạng đích hoàn toàn đồng nhất với tài sản gốc. Trên thực tế, token đại diện thường là một tài sản mới được phát hành theo quy tắc của mạng đích. Giá trị của nó phụ thuộc vào niềm tin rằng cầu nối có thể đổi lại tài sản gốc theo tỷ lệ phù hợp, rằng hợp đồng vẫn hoạt động và rằng tài sản gốc đang được giữ an toàn.
Nếu cơ chế bảo chứng bị suy yếu, token đại diện có thể mất khả năng quy đổi hoặc giao dịch lệch đáng kể so với tài sản gốc. Việc một token mang cùng tên, cùng biểu tượng hoặc có giao diện giống tài sản quen thuộc không đủ để chứng minh đó là phiên bản chính thức. Người dùng cần kiểm tra địa chỉ hợp đồng, mạng đang sử dụng và thông tin do dự án cung cấp qua kênh đáng tin cậy.
Cũng cần phân biệt giữa việc chuyển tài sản gốc, chuyển token đại diện và hoán đổi một token sang token khác thông qua bể thanh khoản. Ba hoạt động này có thể xuất hiện liên tiếp trong cùng một giao diện, nhưng chịu những rủi ro khác nhau. Một giao dịch có thể vừa phát sinh phí mạng, vừa chịu phí cầu nối, vừa chịu trượt giá khi hoán đổi.
Người dùng nên kiểm tra gì trước khi chuyển tài sản?
Trước tiên, cần xác định rõ tài sản đang ở mạng nào và muốn chuyển sang mạng nào. Nhiều giao diện hiển thị tên mạng theo cách rút gọn, trong khi người dùng lại chọn nhầm blockchain hoặc địa chỉ nhận không hỗ trợ tài sản tương ứng. Một giao dịch blockchain thường khó hoặc không thể đảo ngược, nên việc kiểm tra mạng nguồn, mạng đích và địa chỉ nhận cần được thực hiện trước khi xác nhận.
Tiếp theo, người dùng nên xem cơ chế của cầu nối, đơn vị vận hành, trạng thái hoạt động và những giới hạn giao dịch. Không nên chỉ dựa vào mức phí quảng cáo hoặc tốc độ ước tính. Các thông tin đáng quan tâm gồm phí cố định, phí biến đổi, thời gian chờ, yêu cầu số dư tối thiểu, điều kiện hoàn tiền khi giao dịch lỗi và loại tài sản thực sự được nhận ở mạng đích.
Việc thử với một khoản nhỏ trước khi chuyển số tiền lớn là biện pháp thận trọng cần thiết. Khoản thử nghiệm giúp kiểm tra xem tài sản có đến đúng mạng, đúng địa chỉ và được ứng dụng đích nhận diện hay không. Người dùng cũng nên lưu lại mã giao dịch ở cả hai mạng, nhưng cần hiểu rằng mã giao dịch chỉ là công cụ theo dõi, không phải bảo đảm rằng cầu nối sẽ hoàn tất phần còn lại.
Ngoài ra, cần cảnh giác với các trang giả mạo, liên kết quảng cáo, tin nhắn yêu cầu kết nối ví và lời mời “hỗ trợ hoàn tiền” sau khi giao dịch gặp trục trặc. Kẻ xấu thường lợi dụng sự bối rối của người dùng để yêu cầu ký một giao dịch mới hoặc cung cấp cụm từ khôi phục. Không có quy trình cầu nối hợp pháp nào cần người dùng tiết lộ khóa riêng hay cụm từ khôi phục.
Đánh giá cầu nối dưới góc nhìn dài hạn
Không nên đánh giá một cầu nối chỉ bằng việc nó đang được sử dụng rộng rãi hay có giao diện thuận tiện. Một đánh giá đầy đủ cần xem xét lịch sử vận hành, mức độ minh bạch của hợp đồng, quy trình nâng cấp, cách quản lý quyền hạn, phân bổ trách nhiệm khi có sự cố và khả năng công bố thông tin khi giao dịch bị đình trệ. Việc có kiểm toán mã nguồn là tín hiệu tham khảo, nhưng không phải bảo đảm tuyệt đối rằng hệ thống không còn lỗi.
Đối với doanh nghiệp hoặc người dùng thường xuyên chuyển tài sản giữa các mạng, nên xây dựng quy trình riêng thay vì phụ thuộc vào thao tác cá nhân. Quy trình có thể bao gồm danh sách mạng được phép sử dụng, hạn mức chuyển, bước phê duyệt, kiểm tra địa chỉ hợp đồng và phương án xử lý khi cầu nối tạm dừng. Việc tách riêng ví lưu trữ dài hạn khỏi ví dùng cho giao dịch cũng giúp giảm tác động nếu một ứng dụng kết nối bị xâm nhập.
Cầu nối blockchain có vai trò quan trọng trong quá trình các hệ sinh thái tài sản số tìm cách kết nối với nhau. Tuy nhiên, khả năng di chuyển tài sản không đồng nghĩa với việc rủi ro biến mất. Mỗi lần chuyển chuỗi là một lần người dùng đặt niềm tin vào hợp đồng thông minh, cơ chế xác thực, thanh khoản và khả năng quản trị của một hệ thống bổ sung.
Hiểu rõ tài sản nào đang được khóa, tài sản nào được phát hành, ai xác nhận thông điệp và điều gì xảy ra khi có lỗi sẽ giúp người dùng đưa ra quyết định tỉnh táo hơn. Trong một thị trường nơi giao dịch thường không thể đảo ngược, vài phút kiểm tra trước khi chuyển có thể quan trọng không kém việc tìm kiếm mức phí thấp nhất.

